Chuyện kể
Kể theo truyền thống Việt gắn với đền Hát Môn, dựng trên khung sự kiện của Đại Việt sử ký toàn thư. Nguồn sớm nhất là Hậu Hán Thư của phía Hán chép khác ở đoạn kết; xem phần Đối chiếu sử liệu.
Trước khi quân Hán xuống tới, đồng bằng sông Hồng là đất của người Lạc Việt. Dân sống thành các huyện men theo sông, cày ruộng nước, đúc trống đồng; trên mặt trống khắc hình thuyền, hình người đội mũ lông chim. Đứng đầu mỗi huyện là một Lạc tướng, chức truyền từ cha sang con từ thời các vua Hùng. Đó là đất người Lạc Việt đã giữ qua bao đời, có phép tắc riêng và người cầm đầu riêng.
Rồi đế chế phương Bắc tràn xuống. Nhà Hán gộp cả vùng thành quận Giao Chỉ, một quận cực nam của đế chế, và phái thái thú sang cai trị. Quan Hán mang theo luật Hán, thuế Hán, cùng sức ép uốn dân bản địa theo khuôn phương Bắc; quyền của các Lạc tướng bị thu hẹp dần dưới tay quan quận. Đến khi Tô Định làm thái thú Giao Chỉ, ách cai trị nặng thêm: luật lệ hà khắc, vơ vét, giết chóc.
Mùa xuân năm Canh Tý, tức năm 40 sau Công nguyên, ở miền cửa sông Hát bên bờ sông Hồng, người từ bốn phương kéo về. Đứng trước họ là Trưng Trắc, con gái Lạc tướng huyện Mê Linh, và bên bà là em gái Trưng Nhị.
Nỗi uất của cả một vùng dồn lại trong nhà bà. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con Lạc tướng huyện Chu Diên, một dòng Lạc tướng khác. Tô Định giết Thi Sách; mối thù nhà chồng chồng lên nỗi khổ chung của người bị trị, và Trưng Trắc quyết nổi binh.
Bà không nổi binh một mình. Các Lạc tướng, những người đứng đầu các huyện Lạc Việt vốn đã chịu ức chế dưới tay quan Hán, đem người của mình về theo. Quân khởi nghĩa đánh thẳng vào châu trị, nơi đặt lỵ sở của thái thú. Thành vỡ. Tô Định cắt tóc cạo râu, trà trộn trong đám loạn quân mà chạy thoát về đất Hán, bỏ lại cả quận Giao Chỉ.
Tin thắng trận truyền đi. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, những vùng đất Lạc Việt trải dài xuống nam và sang đông, đều nổi lên hưởng ứng. Trong ít lâu, quân Hai Bà thu về hơn sáu mươi thành ở miền Lĩnh Ngoại. Cả một dải đất từng nằm dưới quyền các thái thú Hán nay về tay người bản địa.
Trưng Trắc lên ngôi vua. Bà xưng Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh, chính nơi quê nhà, giữa vùng đất tổ tiên mình từng làm Lạc tướng. Một người đàn bà Lạc Việt đứng đầu một nước, giữa thời mà cả phương Bắc đế chế lẫn lễ giáo phương Bắc đều không có chỗ cho việc ấy. Bà ở ngôi ba năm.
Nhà Hán không để yên. Năm 42, vua Hán sai Mã Viện, viên lão tướng được phong Phục Ba tướng quân, đem đại quân theo đường biển và đường núi tiến xuống. Đây là một trong những danh tướng dày dạn nhất của đế chế, quen chinh chiến từ tây bắc đến Lĩnh Nam. Hai đạo quân gặp nhau ở Lãng Bạc, vùng hồ đầm phía bắc. Quân Hán đông, tinh nhuệ, quen đánh trận lớn; quân Hai Bà là quân của các Lạc tướng mới hợp. Trận Lãng Bạc, quân Hai Bà thất lợi, phải lui.
Mã Viện đuổi theo. Hai Bà rút về Cấm Khê, cố giữ. Quân ít dần, thế cùng dần. Rồi phòng tuyến cuối cũng vỡ.
Theo truyền thống của người Việt, khi thế đã tận, Hai Bà không để rơi vào tay giặc. Hai bà quay về miền cửa sông Hát, nơi ba năm trước quân sĩ bốn phương từng tụ về, và gieo mình xuống dòng nước. Bấy giờ là năm 43.
Người Lạc Việt không quên. Ở Hát Môn, nơi tương truyền Hai Bà tuẫn tiết, dân lập đền thờ; mỗi năm đến ngày giỗ lại dâng bánh trôi, thứ bánh trắng thả trên mặt nước. Ở Mê Linh, nơi bà sinh ra và đóng đô, cũng có đền. Nhiều đời sau, người ta kể pho tượng đá của Hai Bà trôi ngược dòng sông Nhị, rực sáng ban đêm; dân lấy vải đỏ rước lên, lập nên đền Đồng Nhân giữa kinh thành. Từ hai người đàn bà nổi binh giữ đất, dân gian dựng nên hai vị thần.
Bối cảnh: Giao Chỉ dưới ách Đông Hán
Đầu Công nguyên, đồng bằng sông Hồng là đất của người Lạc Việt, tổ chức thành các huyện do Lạc tướng bản địa đứng đầu, cha truyền con nối. Nhà Hán đặt vùng này thành quận Giao Chỉ, một trong các quận cực nam của đế chế, và phái thái thú sang. Quyền của Lạc tướng và quyền của quan Hán chồng lên nhau, và sức ép Hán hóa mỗi lúc một nặng. Trưng Trắc và Trưng Nhị sinh ra trong tầng lớp Lạc tướng ấy, con gái Lạc tướng huyện Mê Linh; Trưng Trắc lấy Thi Sách, con Lạc tướng huyện Chu Diên (Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ Trưng Nữ Vương, bản Chính Hòa 1697).
Đây là một cuộc nổi binh của người bản địa giành lại quyền tự chủ trên đất mình, không phải một cuộc “làm phản” như văn bản của phía đàn áp gọi. Cách đọc ấy là mặc định của bộ bách khoa này. Khảo cổ học cho thấy trước khi quân Hán tới, lưu vực sông Hồng đã có tổ chức chính trị bản địa: nghiên cứu lũy thành Cổ Loa của Nam C. Kim và cộng sự (Antiquity 84, 2010, tr. 1011-1027) xác định vòng lũy chính có niên đại các thế kỷ trước Công nguyên. Xã hội Lạc tướng mà sử liệu mô tả có gốc rễ vật chất, không phải hư cấu.
Hành trạng: theo Hậu Hán Thư và Toàn thư
Có thể dựng lại khung sự kiện từ hai lớp nguồn, với các điểm vênh nêu ở phần sau.
Đại Việt sử ký toàn thư chép Trưng Trắc “khổ vì thái thú Tô Định dùng pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình”, nên cùng em là Trưng Nhị nổi binh năm Canh Tý (40 CN), đánh hãm châu trị; Tô Định chạy về nước. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố hưởng ứng, thu về sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại. Trưng Trắc tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh, ở ngôi ba năm.
Nguồn sớm hơn nhiều là Hậu Hán Thư, Mã Viện liệt truyện của Phạm Diệp, chép từ góc nhìn triều Hán: “người đàn bà Giao Chỉ là Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị làm phản… Trắc tự lập làm vua” (交阯女子徵側及女弟徵貳反… 側自立爲王), chiếm được hơn sáu mươi thành. Chữ “phản” (反) ở đây là ngôn từ của bên đàn áp, không phải phán xét của bộ bách khoa này.
Về phần dẹp khởi nghĩa, Hậu Hán Thư chép rõ hơn cả nguồn Việt. Nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân. Mùa xuân năm Kiến Vũ thứ 18 (42 CN), quân Hán đánh nhau với quân Hai Bà ở Lãng Bạc (浪泊), chém mấy nghìn thủ cấp, hơn vạn người ra hàng; Mã Viện đuổi theo đến Cấm Khê (禁谿). Sang đầu năm sau, “tháng Giêng chém Trưng Trắc, Trưng Nhị, đưa đầu về Lạc Dương” (明年正月,斬徵側、徵貳,傳首洛陽), tức năm 43 CN (Hậu Hán Thư, Mã Viện liệt truyện). Đây là điểm chính sử Hán và truyền thống Việt kể khác nhau, bàn ở dưới.
Khởi nghĩa năm 40: một nước dựng lại trong ba năm
Điều mà cả nguồn Hán lẫn nguồn Việt cùng ghi nhận là quy mô cuộc nổi dậy. Hậu Hán Thư chép hơn sáu mươi thành, Toàn thư và Cương mục chép sáu mươi lăm thành Lĩnh Ngoại; con số xê xích nhưng cùng một tầm vóc. Cuộc khởi nghĩa không dừng ở châu trị Giao Chỉ mà lan xuống Cửu Chân, Nhật Nam và sang Hợp Phố, tức gần như toàn bộ vùng đất Lạc Việt và Lĩnh Nam dưới quyền Hán. Việc Tô Định, một thái thú của đế chế, phải bỏ chạy về nước cho thấy chính quyền quận huyện Hán ở Giao Chỉ đã sụp trên thực tế.
Việc Trưng Trắc tự lập làm vua và đóng đô ở Mê Linh là điểm cốt lõi. Hậu Hán Thư tự nó dùng chữ “tự lập vi vương” (自立爲王), tức tự lập làm vua, không phải một chức quan do Hán ban. Trong ba năm, vùng đất này có một triều đình bản địa của riêng mình. Việc nhà Hán phải điều Mã Viện, một trong những danh tướng lớn nhất đương thời, với đại quân thủy bộ, là thước đo gián tiếp cho sức nặng của chính quyền Trưng Vương: đế chế không xử lý nó như một vụ trộm cướp địa phương.
Mã Viện và Lãng Bạc: thế trận không cân
Cuộc phản công của nhà Hán do Mã Viện (馬援) chỉ huy, được phong Phục Ba tướng quân, cùng các tướng dưới quyền. Theo Hậu Hán Thư, quân Hán tiến theo ven biển, mở đường qua núi hơn nghìn dặm, rồi giao chiến ở Lãng Bạc. Trận này quân Hai Bà chịu tổn thất nặng và phải lui về Cấm Khê. Quân Hán là lực lượng chuyên nghiệp của một đế chế thống nhất, quen hậu cần đường dài và trận địa lớn; quân Hai Bà là liên minh các Lạc tướng mới hợp trong hai năm. Hậu Hán Thư còn chép Mã Viện dâng biểu xin đúc cột đồng (銅柱) đánh dấu biên giới cực nam sau khi dẹp xong; vị trí cột đồng ấy về sau thất truyền, và mô-típ này chỉ có ở lớp sử liệu muộn, cần thận trọng.
Bất đối xứng nguồn: ai chép, và chép khi nào
Đặc điểm chi phối mọi trang viết về Hai Bà là bất đối xứng nguồn, và cần nêu tường minh.
Toàn bộ thông tin gần thời điểm sự kiện đều đến từ phía Hán. Hậu Hán Thư do Phạm Diệp soạn ở thế kỷ V, khoảng bốn trăm năm sau sự kiện, từ góc nhìn của bên đàn áp, và gọi Hai Bà là “phản”. Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên đầu thế kỷ VI cũng vậy. Không tồn tại một văn bản Việt đương thời thế kỷ I.
Các nguồn Việt ra đời muộn hơn nhiều thế kỷ và mang định hướng ca ngợi anh hùng dân tộc: Việt điện u linh năm 1329, Toàn thư khắc in bản Chính Hòa 1697, Cương mục soạn nửa sau thế kỷ XIX, cùng các thần tích còn muộn hơn. Hệ quả cụ thể: mọi con số, địa danh và động cơ đều phải đối chiếu chéo và nêu rõ độ bất định. Con người Trưng Trắc, Trưng Nhị là có thật, ghi trong chính sử của cả hai phía; nhưng phần lớn chi tiết đời tư và diễn biến chi tiết đến từ nguồn muộn, và bộ bách khoa này tách bạch hai lớp đó thay vì gộp làm một.
Đối chiếu sử liệu
Bốn hệ văn bản chép lệch nhau ở những chỗ quan trọng nhất:
- Tên chồng
- ”Thi” (詩)
- Thi Sách chết trước khởi nghĩa?
- Ngụ ý còn sống, đi theo vợ
- Năm khởi nghĩa
- Kiến Vũ 16 (40 CN)
- Số thành
- hơn 60 (六十餘城)
- Kết cục Hai Bà
- Bị chém, đưa đầu về Lạc Dương (43 CN)
- Nơi truy kích cuối
- Cấm Khê (禁谿)
- Tên chồng
- Thi Sách (詩索)
- Thi Sách chết trước khởi nghĩa?
- Có: “thù Định giết chồng mình”
- Năm khởi nghĩa
- Canh Tý (40 CN)
- Số thành
- 65 thành Lĩnh Ngoại
- Kết cục Hai Bà
- Truyền thống Việt: tuẫn tiết
- Nơi truy kích cuối
- Cẩm Khê (錦溪)
- Tên chồng
- Thi Sách
- Thi Sách chết trước khởi nghĩa?
- Có
- Năm khởi nghĩa
- 40 CN
- Số thành
- 65 thành Lĩnh Nam
- Kết cục Hai Bà
- Theo Hậu Hán Thư: bị chém
- Nơi truy kích cuối
- tương tự
- Tên chồng
- Thi Sách
- Thi Sách chết trước khởi nghĩa?
- Không nhấn mạnh
- Năm khởi nghĩa
- 40 CN
- Số thành
- 65 thành phía nam
- Kết cục Hai Bà
- ”Trắc bị Mã Viện giết”
- Nơi truy kích cuối
- không chép
Ba điểm vênh cần lưu ý riêng, trình bày ở mục dưới.
Điểm chưa ngã ngũ
Thi Sách sống hay chết trước khởi nghĩa. Toàn thư và Cương mục dựng động cơ “trả thù chồng”; nhưng Hậu Hán Thư và Thủy Kinh Chú mô tả chồng bà, chép tên là “Thi”, như người còn sống. Keith Taylor (The Birth of Vietnam, UC Press 1983, tr. 37-41) lập luận rằng chi tiết Thi Sách bị giết trước có thể là do định kiến phụ hệ đời sau thêm vào, vì sử gia về sau khó chấp nhận một người đàn bà đứng đầu khởi nghĩa khi chồng còn sống, nên cần một cái chết để “kích động” bà; các nguồn Hán lại cho thấy chồng bà đi theo sự lãnh đạo của vợ. Đây là câu hỏi về nguồn gốc văn bản, chưa khép. Nó không đụng đến điều chắc chắn: người khởi xướng và cầm đầu là Trưng Trắc.
Tự trầm hay bị chém. Hậu Hán Thư chép Hai Bà bị chém, đầu đưa về Lạc Dương đầu năm 43. Truyền thống Việt gắn với đền Hát Môn và Việt điện u linh chép Hai Bà gieo mình xuống sông Hát. Nguồn sớm nhất đứng về phía thứ nhất; ký ức tín ngưỡng đứng về phía thứ hai. Không có nguồn thứ ba để phân xử, và hai lớp này thuộc hai loại nguồn khác nhau.
“Trưng” là họ hay không. Toàn thư khẳng định họ Trưng, nguyên họ Lạc, và phê rằng lấy “Lạc” làm họ là lầm. Stephen O’Harrow (Asian Perspectives 22(2), 1979, tr. 140-164) được xem là nguồn gốc của giả thuyết đọc “Trưng Trắc”, “Trưng Nhị” theo nghề tằm tang (trứng tằm loại một, loại hai); giả thuyết này chưa được xác lập chắc chắn và thường bị gán nhầm cho Taylor. Điều các nguồn cùng ghi nhận: hai chị em mang tên Trắc và Nhị, con nhà Lạc tướng Mê Linh.
Lớp truyền thuyết và thần thánh hóa
Từ thời Lý trở đi, Hai Bà không chỉ là nhân vật sử mà thành thần được thờ, và các văn bản tín ngưỡng không giấu tính chất của mình. Cần gắn nhãn rõ: đây là dữ liệu về lịch sử thờ cúng và ký ức địa phương, không phải niên biểu tiểu sử.
Việt điện u linh tập (1329) có truyện “Nhị Trưng phu nhân”, kể Hai Bà hiển linh, được vua Lý cầu mưa ứng nghiệm, sắc phong Trinh Linh phu nhân, Chế Thắng phu nhân. Đây là văn bản tín ngưỡng. Mô-típ tượng đá Hai Bà trôi trên sông Nhị, rực sáng, dân lấy vải đỏ rước vào bờ, gắn với sự tích lập đền Đồng Nhân đời Lý. Niên đại lập đền vênh nhau giữa các nguồn: một số hồ sơ ghi năm 1142, Đại Việt sử lược ghi dân làng Đồng Nhân lập đền năm Canh Thìn (1160). Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính mở đầu phần “Các bậc đại anh kiệt” bằng Trưng Vương, thuộc dòng dã sử kể lại.
Nhiều chi tiết quen thuộc trong hình dung phổ thông thuộc lớp muộn này: danh sách các nữ tướng (Lê Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn), người mẹ tên Man Thiện, con số “ba mươi sáu nữ tướng”, lời thề ở cửa sông Hát. Phần lớn đến từ thần tích và dã sử nhiều thế kỷ sau, không phải sử liệu thế kỷ I, và cần đọc như ký ức được bồi đắp dần chứ không phải biên bản sự kiện.
Thờ tự và di tích
Ba trung tâm thờ chính, đều là Di tích quốc gia đặc biệt, giữ ký ức về Hai Bà theo ba cách bổ sung nhau.
Đền Hát Môn (xã Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội) gắn với truyền thống Hai Bà hội quân, tế cờ, và tuẫn tiết. Lễ hội mở mùng 4 đến mùng 6 tháng Ba âm lịch, có tục dâng bánh trôi. Theo hồ sơ Cục Di sản văn hóa, đền lưu giữ hàng trăm di vật cổ vật niên đại trải từ thời Lê, Tây Sơn, Nguyễn đến nay; xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013.
Đền Hai Bà Trưng ở Hạ Lôi (xã Mê Linh, huyện Mê Linh) tương truyền là nơi Hai Bà sinh ra và đóng đô, cũng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 2383/QĐ-TTg.
Cụm đền-chùa-đình Đồng Nhân (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) thờ Hai Bà, tương truyền tượng Trưng Trắc mặc áo vàng, Trưng Nhị áo đỏ, cùng các nữ tướng phối thờ; xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2019. Về số nữ tướng, các nguồn vênh nhau: hồ sơ chính thức của cổng di tích quận ghi thờ Hai Bà và sáu nữ tướng thân tín, trong khi nhiều nguồn phổ thông ghi mười hai; nên theo con số của hồ sơ chính thức. Đền còn giữ văn bia do Dương Duy Thanh, đốc học Hà Nội, soạn năm 1848.
Bối cảnh khảo cổ: Đông Sơn và Cổ Loa
Bối cảnh vật chất của Hai Bà là xã hội Lạc Việt của văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng, nổi tiếng với trống đồng và kỹ thuật đúc đồng, kéo dài đến khoảng thế kỷ I CN. Thành Cổ Loa, cách trung tâm Hà Nội khoảng mười bảy cây số về phía bắc, có tầng văn hóa Phùng Nguyên và Đông Sơn. Nghiên cứu của Nam C. Kim và cộng sự (Antiquity 84, 2010, tr. 1011-1027) xác định vòng lũy chính có niên đại các thế kỷ trước Công nguyên, chứng minh tổ chức chính trị bản địa đã tồn tại trước ách Hán, tương thích với hình ảnh Lạc tướng trong sử liệu. Không có bằng chứng khảo cổ nào gắn trực tiếp với cá nhân Hai Bà; giá trị của khảo cổ ở đây là dựng lại thế giới mà hai bà bước ra, không phải chứng thực từng chi tiết truyện.
Hình tượng qua các thời kỳ
Mỗi thời đại đọc Hai Bà theo nhu cầu của mình. Thời Lý, Hai Bà là phúc thần cầu mưa, được sắc phong phu nhân qua Việt điện u linh. Các triều đại về sau tiếp tục gia phong và tu bổ đền miếu, đưa hai chị em vào hàng thần hộ quốc. Sử gia Nho học như Ngô Sĩ Liên đặt Hai Bà thành một kỷ riêng trong Toàn thư, Kỷ Trưng Nữ Vương, tức thừa nhận đây là một vương triều chính thống, dù ngắn. Đến thời hiện đại, Hai Bà trở thành biểu tượng của tinh thần độc lập và của vai trò người phụ nữ Việt trong lịch sử dựng nước giữ nước; tên hai bà đặt cho một quận nội thành Hà Nội, cho đường phố và trường học khắp nước. Giới sử học quốc tế, từ Keith Taylor đến Stephen O’Harrow, đọc cuộc khởi nghĩa như bằng chứng cho địa vị cao của nữ giới trong xã hội Lạc trước Hán hóa.
Di sản sống
Di sản của Hai Bà không nằm ở một pho tượng hay một dòng bia, mà ở một hệ ký ức còn vận hành. Ngày mùng 6 tháng Ba âm lịch, ngày giỗ theo tín ngưỡng, đền Hát Môn mở hội và dâng bánh trôi; đền Mê Linh và đền Đồng Nhân cũng vào hội mùa xuân. Ba ngôi đền là Di tích quốc gia đặc biệt, giữ một chuỗi thờ tự kéo dài từ thời Lý đến nay. Trong ngôn ngữ chính trị và giáo dục Việt Nam hiện đại, “Hai Bà Trưng” là cụm từ ai cũng biết, đứng đầu một truyền thống chống ngoại xâm mà các thế hệ sau nối tiếp. Điều còn lại chắc chắn nhất, qua gần hai nghìn năm và qua cả nguồn của bên đối địch, là hai người đàn bà Lạc Việt đã dựng lại một chính quyền độc lập trên đất mình và giữ nó ba năm trước sức mạnh của một đế chế.
Lưu ý khi sử dụng
Bất đối xứng nguồn. Nguồn gần thời điểm nhất, Hậu Hán Thư, là của phía Hán và viết bốn thế kỷ sau; nguồn Việt đều muộn hơn và mang tính ca ngợi. Dùng Hai Bà làm nhân vật lịch sử có thật thì vững; trích chi tiết đời tư hay diễn biến vi mô như sự thật chắc chắn thì phải dẫn nguồn và nêu độ bất định.
Ngày tháng bất định. Năm sinh Hai Bà (thường ghi 14 CN) chỉ có ở nguồn muộn, không chắc. Ngày mất mùng 6 tháng Ba âm lịch là ngày giỗ theo tín ngưỡng, không phải một ngày dương lịch xác thực. Năm khởi nghĩa 40 CN và năm thất bại 43 CN tương đối vững vì khớp giữa Hậu Hán Thư (Kiến Vũ 16 và 18-19) và Toàn thư.
Chi tiết thuộc lớp muộn. Cột đồng Mã Viện, con số “ba mươi sáu nữ tướng”, người mẹ Man Thiện, lời thề sông Hát, danh sách nữ tướng đầy đủ đều thuộc sử liệu muộn hoặc thần tích, dã sử. Gắn nhãn tương ứng, không dùng làm dữ kiện tiểu sử chắc chắn.
Con số quân. Các con số quân cụ thể (ba đến tám vạn) chỉ xuất hiện ở nguồn phổ thông và thứ cấp, không có ở nguồn thế kỷ I; không nên dẫn như sử liệu.
Địa danh còn tranh luận. Vị trí Lãng Bạc, Cấm Khê (禁谿, có bản chép Cẩm Khê 錦溪), và ranh giới huyện Mê Linh xưa đều còn bàn cãi về địa lý. Nêu rõ khi định vị trên bản đồ hiện đại.
Thần tích là hagiography. Thần tích và sự tích lập đền quý cho lịch sử thờ cúng và ký ức địa phương, nhưng không dùng được làm niên biểu hành trạng.