Việt Tỉnh Truyện (Truyện Giếng Việt)

Việt Tỉnh truyện · Truyện giếng Việt · Truyện Giếng Việt Cương · Tale of the Viet Well
越井傳 · Việt Tỉnh Truyện: The Well of Viet
Truyện cổ Bắc Bộ Bối cảnh truyện bản Hoa: đời Đường, niên hiệu Trinh Nguyên (785-805). Bối cảnh truyện bản Việt: đời Hùng Vương thứ ba. Nguồn Hoa: Thái Bình Quảng Ký (978). Biên soạn LNCQ: cuối TK XIV (Trần Thế Pháp), hiệu chính 1492-1493 (Vũ Quỳnh và Kiều Phú)
Việt Tỉnh Truyện (Truyện Giếng Việt)

Việt Tỉnh truyện (Truyện Giếng Việt) là một truyện trong quyển 2 của Lĩnh Nam Chích Quái, phóng tác từ truyện truyền kỳ đời Đường "Thôi Vĩ" (崔煒), vốn thuộc tập Truyền Kỳ của Bùi Hình và được bảo tồn trong Thái Bình Quảng Ký quyển 34. Bản gốc Trung Hoa kể chàng Thôi Vĩ ở Quảng Châu vì làm ơn cho một bà lão mà được nhánh ngải thần, rồi lạc xuống một giếng khô, được rồng dẫn vào một âm cung nguy nga, cưới thần nữ Điền phu nhân và nhận viên ngọc Dương Toại châu; về sau chàng mới biết giếng ấy là mộ Nam Việt vương Triệu Đà. Bản Việt trong Lĩnh Nam Chích Quái dời bối cảnh về miền Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh, thay lăng Triệu Đà bằng cung điện của Ân Vương (vua nhà Ân bị Phù Đổng Thiên Vương đánh bại, hóa làm vua cõi âm), nhưng giữ nguyên khung mô-típ giếng, âm cung, hôn phối thần nữ, bảo châu, và cách lý giải địa danh. Đây là một ví dụ mẫu mực về thao tác bản địa hóa cốt truyện Hoa của nho sĩ Đại Việt thế kỷ XV. Truyện mang lớp lịch sử Nam Việt và Triệu Đà, một nhân vật mà sử học Việt Nam chia rẽ sâu sắc về tính chính thống.

Chuyện kể

Đời Đường, niên hiệu Trinh Nguyên, ở đất Nam Hải mà nay là Quảng Châu, có chàng trai tên Thôi Vĩ, con một viên quan giám sát họ Thôi. Cha mất sớm để lại gia sản khá giả, nhưng Thôi Vĩ tính hào phóng, thấy ai khổ cũng ra tay, chẳng mấy chốc tiêu tán gần hết, sống lần hồi giữa chốn phố phường.

Một ngày hội, giữa phố đông, có bà lão bán rượu bị người ta xô ngã, vò rượu vỡ tan dưới đất. Chủ hàng bắt đền, bà lão không có tiền. Thôi Vĩ đi qua thấy vậy, cởi ngay tấm áo đang mặc đền thay bà. Bà lão nhìn chàng hồi lâu rồi bảo: ta có thứ này tạ ơn ngươi. Bà rút trong tay nải mấy nhánh ngải, nói đây là ngải hái ở gò Việt Tỉnh, ai có bướu có nhọt, cứ lấy ngải này cứu vào là khỏi. Nói rồi bà đi mất giữa đám đông.

Thôi Vĩ cầm nhánh ngải, chưa biết dùng vào đâu. Ít lâu sau, nhà họ Nhậm giàu có trong vùng có người mắc chứng bướu ở cổ, chữa mãi không khỏi. Chàng đem ngải ra cứu thử, quả nhiên bướu xẹp. Nhà họ Nhậm mừng lắm, giữ chàng lại trong nhà. Nhưng nhà ấy thờ một vị thần dữ tên là Độc Cước, tục lệ mỗi năm phải bắt một người sống đem tế. Năm ấy đến lượt, họ nhắm vào người khách lạ trong nhà. Nửa đêm Thôi Vĩ nghe được mưu ấy, vội trốn đi. Chàng chạy trong bóng tối, không rõ đường, sảy chân rơi xuống một cái giếng khô sâu hoắm.

Đáy giếng có lớp lá mục dày nên chàng không chết. Định thần nhìn quanh, trong bóng tối lờ mờ, chàng thấy một con rắn trắng to lớn nằm khoanh, đầu có cái bướu lớn ở mép, dáng đau đớn. Đó không phải rắn thường, mà là một con rồng. Thôi Vĩ chợt nhớ nhánh ngải trong người. Chàng lần tới, đốt ngải cứu vào chỗ bướu cho rồng. Bướu vỡ, rồng khỏi đau. Con rồng ngóc đầu nhìn chàng, rồi trườn đi trước dẫn đường, đưa chàng luồn qua một cửa hang dưới đáy giếng.

Qua khỏi hang tối, trước mắt chàng mở ra một tòa cung điện nguy nga, đèn đuốc sáng trưng như chốn nhân gian mà lộng lẫy hơn nhiều. Có bốn người con gái đẹp ra đón, gọi chàng là khách quý. Các nàng nói đây là cung của một vị hoàng đế, và hoàng đế muốn gả cho chàng một người con gái tên là Điền phu nhân, vốn là con gái của Tề vương Điền Hoành thuở trước. Thôi Vĩ bái tạ, thành thân với nàng nơi cung điện dưới lòng đất. Những ngày ở đó, chàng được đãi như thượng khách, không thiếu thứ gì.

Đến lúc phải trở về nhân gian, có một vị sứ giả xưng là sứ giả Dương Thành đưa chàng ra khỏi cõi âm. Trước khi đi, vị hoàng đế ban cho chàng một viên ngọc quý gọi là Dương Toại châu, dặn giữ cho cẩn thận. Thôi Vĩ ôm ngọc, theo sứ giả lần ra, rồi bỗng thấy mình đã đứng lại trên mặt đất Quảng Châu quen thuộc, như vừa qua một giấc chiêm bao.

Chàng đem viên ngọc ra chợ. Ở khu Ba Tư để, nơi các thương nhân từ phương xa tụ họp buôn bán, có một lão người Đại Thực trông thấy viên ngọc thì sững người. Lão trả ngay mười vạn quan tiền để mua, không mặc cả một lời. Thôi Vĩ lấy làm lạ, hỏi cho ra lẽ. Lão thương nhân mới nói: đây là viên Dương Toại châu, ngọc quốc bảo đã thất lạc từ lâu; viên ngọc này vốn nằm trong mộ của Nam Việt vương Triệu Đà. Cái giếng mà chàng rơi xuống, cái cung điện dưới lòng đất mà chàng đã vào, chính là lăng mộ của Triệu Đà, vị vua từng xưng là Nam Việt Vũ Đế mấy trăm năm trước; vị “hoàng đế” gả vợ cho chàng chính là ông ta.

Thôi Vĩ nghe xong mới vỡ lẽ mọi chuyện. Về sau chàng còn hay được một điều nữa: bà lão bán rượu năm xưa cho chàng nhánh ngải gò Việt Tỉnh không phải người thường, mà là một vị tiên cô tên Bào Cô, con của Bào Tĩnh, vợ của Cát Hồng, người tu tiên luyện đan nổi tiếng. Nhánh ngải làm ơn ngày ấy đã dẫn chàng đi trọn một vòng, từ chỗ cứu người, cứu rồng, xuống tận cõi âm, rồi trở về tay cầm viên ngọc của một ông vua đã khuất.


Cốt truyện theo Thái Bình Quảng KýLĩnh Nam Chích Quái

Truyện tồn tại ở hai bản, một Hoa một Việt, cùng một khung nhưng khác lõi lịch sử.

Bản Hoa, truyện “Thôi Vĩ” (崔煒). Đây là bản gốc, chép trong Thái Bình Quảng Ký quyển 34, phần Thần tiên, cuối truyện chua xuất xứ từ tập Truyền Kỳ (傳奇) của Bùi Hình. Cốt truyện đúng như phần Chuyện kể trên: Thôi Vĩ ở Nam Hải làm ơn cho bà lão, được ngải gò Việt Tỉnh, chữa bướu, trốn nạn tế thần mà rơi xuống giếng, cứu rồng, lạc vào âm cung, cưới Điền phu nhân, nhận Dương Toại châu, rồi bán ngọc cho lão Hồ Đại Thực và biết đó là mộ Nam Việt vương Triệu Đà. Nguyên văn cái kết ghi lời lão Hồ nhận ngọc và định vị ngôi mộ: chàng đã vào “南越王趙佗墓中” (trong mộ Nam Việt vương Triệu Đà), viên ngọc là “國寶陽燧珠” (ngọc quốc bảo Dương Toại), bán được “十萬緡” (mười vạn quan); thần nữ là “田夫人”, “con gái Tề vương”, vua tên “橫” (Điền Hoành); bà lão cho ngải là “鮑姑”, “con Bào Tĩnh, vợ Cát Hồng”. Tất cả kiểm chứng nguyên văn trên Thái Bình Quảng Ký q.34.

Bản Việt, Việt Tỉnh truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái. Bản Việt giữ khung mô-típ nhưng dời hẳn bối cảnh. Mở đầu định vị “Giếng Việt ở miền Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh”; gắn với truyền thuyết đời Hùng Vương thứ ba, nhà Ân sang xâm lược bị Phù Đổng Thiên Vương đánh bại, Ân Vương chết dưới núi, hóa làm vua cõi âm, dân lập miếu thờ. Nhân vật họ Thôi làm quan qua vùng này tu sửa miếu; về sau các tướng Nhâm Hiêu (任囂), Triệu Đà cũng qua đây trú quân và sai tu sửa. Phần kỳ ảo giữ mô-típ người lạc vào thành dưới lòng đất, gặp Ân hậu, hôn phối thần nữ, nhận bảo châu, rồi được tiên nữ đón đi; kết bằng cách lý giải địa danh, giếng cạn thành huyệt, tục gọi là Việt Tỉnh Cương.

Một số chi tiết cụ thể của bản Việt (tên viên ngọc, tên vị tiên nữ đón đi, thứ tự truyện trong quyển 2) hiện chỉ tra được trên các trang phổ biến chưa đạt chuẩn nguồn; cần đối chiếu bản dịch phê bình của Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, hoặc Nguyễn Thị Oanh (NXB KHXH) trước khi trích cố định. Xem mục Lưu ý khi sử dụng.

Nguồn gốc: phóng tác từ truyện “Thôi Vĩ” đời Đường

Việt Tỉnh truyện không phải một truyện dân gian Việt cổ được ghi chép lại, mà là một truyện Hoa được người Việt thu nạp và cải biên. Chuỗi phái sinh khá rõ:

  • Truyện gốc là “Thôi Vĩ” (崔煒) của Bùi Hình (裴鉶), một tác gia đời Đường mạt, trong tập truyền kỳ nhan đề Truyền Kỳ (傳奇).
  • Truyện được thu vào Thái Bình Quảng Ký (太平廣記) quyển 34, bộ loại thư 500 quyển do Lý Phưởng chủ biên theo lệnh Tống Thái Tông, khởi soạn năm 977 và hoàn thành năm 978. Cuối truyện chua rõ “出《傳奇》”, tức lấy từ tập của Bùi Hình.
  • Sang thế kỷ XV, khi biên soạn Lĩnh Nam Chích Quái, người soạn Việt đã lấy cốt truyện này làm nền cho Việt Tỉnh truyện.

Quan hệ phái sinh này được Đới Khả Lai và Dương Bảo Quân trong bản hiệu chú Lĩnh Nam chích quái đẳng sử liệu tam chủng (NXB Trung Châu Cổ Tịch, 1991) ghi rõ, và được giới nghiên cứu Hàn Quốc nêu tường minh trong Sungkyun Journal of East Asian Studies 25/2 (2025), dẫn công trình so sánh 崔煒 với Việt Tỉnh truyện của Ch’oe China. Cái gò Việt Tỉnh (越井岡) mà bà lão hái ngải, địa danh cho truyện cái tên, là một địa điểm có thật ở Quảng Châu, không phải ở đất Việt (xem mục Địa lý).

Sự “dời chỗ”: Quảng Châu thành Trâu Sơn, Triệu Đà thành Ân Vương

Đây là phần đáng chú ý nhất của truyện, vì nó cho thấy rõ một thao tác biên tập. Người soạn Việt không dịch truyện Thôi Vĩ, cũng không chép lại nguyên, mà giữ lấy bộ khung rồi thay lõi:

Giữ nguyên khung mô-típ. Chuỗi sự kiện lõi được bảo lưu gần như trọn vẹn: một người lạc xuống giếng, được dẫn vào một cung điện dưới lòng đất, hôn phối với một thần nữ, nhận một viên bảo châu, và cuối cùng cái giếng trở thành cái tên giải thích một địa danh.

Thay lõi lịch sử. Cái bị thay là tầng nhân vật và không gian lịch sử. Bối cảnh Nam Hải, Quảng Châu dời về miền Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh trên đất Việt. Chủ nhân ngôi mộ, tức Nam Việt vương Triệu Đà, bị thay bằng Ân Vương, vua nhà Ân trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương. Triệu Đà từ vị hoàng đế cõi âm ở trung tâm truyện bị hạ xuống thành một viên tướng thoáng qua, ghé vùng này tu sửa miếu.

Kết quả của thao tác này: một truyện vốn xoay quanh Quảng Châu và lăng vua Nam Việt trở thành một truyện của đất Việt, cắm vào hệ truyền thuyết Hùng Vương và Phù Đổng. Jenkin Leung (UC Berkeley, 2022), khi bàn ba truyện Sino-Việt khác trong LNCQ, lập luận rằng người soạn khoác cho các truyện một “diện mạo Hoa” để dung hòa với thế giới quan Tân Nho; với Việt Tỉnh truyện, thao tác diễn ra theo chiều ngược, một cái lõi Hoa được khoác diện mạo Việt. So sánh với Bạch Trĩ truyện, nơi một tích Trung Hoa (Việt Thường hiến trĩ) được gắn vào hệ Hùng Vương, cùng một khuynh hướng biên soạn hiện ra: giới nho sĩ Lê sơ chủ động kiến tạo một quá khứ bằng chất liệu vay mượn.

Dị bản: đối chiếu bản Hoa và bản Việt

Bảng dưới đối chiếu các yếu tố lõi. Cột bản Hoa kiểm chứng nguyên văn trên Thái Bình Quảng Ký q.34; cột bản Việt theo các truyền bản phổ biến, những mục còn cần xác minh được ghi chú.

Bản Hoa (太平廣記 q.34 “崔煒”)
Bối cảnh
Nam Hải, Quảng Châu (Phiên Ngung)
Cung dưới giếng
Lăng của Nam Việt vương Triệu Đà
Vai trò Triệu Đà
Nhân vật trung tâm, chủ nhân ngôi mộ
Bảo châu
陽燧珠 (Dương Toại châu), bán mười vạn quan
Thần nữ
田夫人, con Tề vương Điền Hoành
Người trợ giúp
Tiên cô 鮑姑 (Bào Cô), vợ Cát Hồng
Lý giải địa danh
Gò Việt Tỉnh (越井岡) ở Quảng Châu
Bản Việt (Việt Tỉnh truyện, LNCQ)
Bối cảnh
Miền Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh
Cung dưới giếng
Cung của Ân Vương (vua nhà Ân hóa vua âm)
Vai trò Triệu Đà
Viên tướng qua vùng tu sửa miếu
Bảo châu
Bảo châu (tên cụ thể cần đối chiếu)
Thần nữ
Thần nữ được gả (chi tiết cần đối chiếu)
Người trợ giúp
Tiên nữ đón đi (chi tiết cần đối chiếu)
Lý giải địa danh
Việt Tỉnh Cương ở miền Trâu Sơn

Điểm mấu chốt nằm ở hai dòng giữa bảng. Bản Việt bảo lưu khung mô-típ nhưng thay nội dung lịch sử: Triệu Đà thành Ân Vương, Quảng Châu thành Vũ Ninh. Chính cặp thay thế đó biến một truyện Quảng Châu thành một truyện của đất Việt.

Lớp Nam Việt: Triệu Đà và tính chính thống gây tranh cãi

Truyện mang trong nó một nhân vật mà sử học Việt Nam tranh luận đã nhiều thế kỷ: Triệu Đà (趙佗), người lập nước Nam Việt cuối thế kỷ III trước Công nguyên, đóng đô ở Phiên Ngung. Vị thế của nhà Triệu trong dòng chính thống Việt là một câu hỏi chưa khép, và đây là chỗ cần trình bày cả hai phía chứ không tự phân xử.

Phía coi nhà Triệu là chính thống. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (Ngô Sĩ Liên, 1479), nối theo Lê Văn Hưu, đặt Kỷ nhà Triệu vào dòng chính thống của nước Việt, coi Triệu Đà là một vị vua trong quốc thống. Trong khung này, việc truyện lấy lăng Triệu Đà làm trung tâm nằm gọn trong một truyền thống sử học từng xem nhà Triệu là của mình.

Phía coi nhà Triệu là ngoại bang. Sử học hiện đại theo dòng chủ lưu coi Triệu Đà là người khởi phát từ ngoài đất Việt, đánh chiếm Âu Lạc, và xem thời Triệu là mở đầu Bắc thuộc. Keith Taylor, The Birth of Vietnam (University of California Press, 1983, tr. 23-27) trình bày Nam Việt như một chính quyền do một viên quan nhà Tần lập ra sau khi Tần sụp, rồi bị Hán thôn tính năm 111 trước Công nguyên. Cách đọc này gắn với lập trường độc lập: Âu Lạc là một nước có chủ, việc Triệu Đà thôn tính là một cuộc xâm chiếm, không phải một sự kế thừa nội bộ.

Hai lập trường này chưa hợp nhất, và truyện không cần phân xử chúng để đọc được. Điều đáng ghi cho riêng truyện: dù đứng ở phía nào, bản Việt vẫn chủ động đẩy Triệu Đà ra khỏi vị trí trung tâm mà bản Hoa dành cho ông, thay bằng một nhân vật thuần truyền thuyết Việt là Ân Vương. Thao tác biên tập ấy tự nó là một cử chỉ định vị: câu chuyện được kéo về đất Việt và cắm vào hệ Hùng Vương, Phù Đổng.

Địa lý: gò Việt Tỉnh và giếng Việt Vương ở Quảng Châu

Cái tên “Việt Tỉnh” trong truyện gốc trỏ một địa điểm có thật. Gò Việt Tỉnh (越井岡) là đỉnh chính của núi Việt Tú (越秀山) ở Quảng Châu, một ngọn đồi thấp giữa thành phố. Gắn với nó là giếng cổ tên “Việt Vương tỉnh” (越王井), còn gọi Cửu Nhãn tỉnh (九眼井), tương truyền do Nam Việt vương Triệu Đà cho đào; đây được coi là một trong những giếng cổ nhất Quảng Châu. Vùng này cũng gắn với tiên cô Bào Cô và nghề cứu ngải, đúng như chi tiết bà lão cho Thôi Vĩ nhánh ngải “gò Việt Tỉnh” trong truyện. Nói cách khác, bối cảnh địa lý của bản Hoa là địa lý thật của Quảng Châu; bản Việt mượn cái tên “Việt Tỉnh” mà gắn sang miền Trâu Sơn.

Một chú thích để tránh nhầm. Lăng Triệu Đà trong truyện là chi tiết truyền kỳ, và trên thực tế mộ Triệu Đà đến nay chưa tìm thấy. Ngôi mộ vua Nam Việt đã khai quật, phát hiện tháng 6 năm 1983 tại gò Tượng Cương (象崗) phía tây núi Việt Tú và khai quật cuối năm đó, thu hơn một nghìn hiện vật gồm ấn vàng khắc “文帝行璽” và áo ngọc, là mộ của Triệu Muội (趙眜), cháu nội Triệu Đà và là vua thứ hai của Nam Việt, không phải mộ Triệu Đà. Không nên lẫn ngôi mộ khảo cổ có thật này với “lăng Triệu Đà” trong truyện.

Văn bản học: Lĩnh Nam Chích Quái và các dị bản

Lĩnh Nam Chích Quái (嶺南摭怪) là tuyển tập truyện cổ chữ Hán, tương truyền do Trần Thế Pháp soạn khoảng cuối thế kỷ XIV, sau được Vũ Quỳnh (bài tựa 1492) và Kiều Phú hiệu chính. Tác phẩm chưa từng được khắc in, tồn tại qua nhiều bản chép tay khác nhau; một bản (NLVNPF-0651, R.1618) được số hóa trong sưu tập Thư viện Quốc gia Việt Nam trên Nôm Foundation. Số truyện thay đổi theo dị bản: bản 22 truyện của Vũ Quỳnh là cấu trúc kinh điển, nhưng có bản chép tới 45 truyện theo mục lục. Việt Tỉnh truyện nằm ở quyển 2 theo các truyền bản phổ biến.

Thư mục nền tảng về các bản LNCQ là Émile Gaspardone, “Bibliographie annamite”, BEFEO 34 (1934), tr. 128-130. Công trình khảo cứu văn bản học đầy đủ nhất hiện nay là chuyên luận của Nguyễn Thị Oanh, Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận, Dịch chú, Nguyên bản chữ Hán), NXB Khoa học Xã hội, khảo sát toàn bộ các bản lưu tại các thư viện Hà Nội. Bản dịch mở của Liam C. Kelley trên Viet Texts (University of Hawai’i) cho một điểm tra cứu tiếng Anh.

Nghiên cứu học thuật hiện đại

Nghiên cứu về Việt Tỉnh truyện tập trung ở hai câu hỏi: quan hệ phái sinh với truyện Hoa, và ý nghĩa của thao tác bản địa hóa.

Quan hệ phái sinh. Đây là phần vững nhất. Đới Khả Lai và Dương Bảo Quân (1991)nghiên cứu Hàn Quốc dẫn trong SJEAS 25/2 (2025) đều xác nhận chuỗi Việt Tỉnh truyện ← “Thôi Vĩ” ← Truyền Kỳ của Bùi Hình. Văn bản gốc trên Thái Bình Quảng Ký q.34 cho phép đối chiếu trực tiếp, nên đây không phải một giả thuyết mà là một quan hệ văn bản kiểm chứng được.

Thao tác bản địa hóa và kiến tạo truyền thống. Liam Kelley (JVS 7/2, 2012, tr. 87-130) phát triển khung “truyền thống được kiến tạo” cho các truyện LNCQ, lập luận rằng giới sĩ phu Đại Việt thế kỷ XV chủ động dựng một quá khứ trên nền cổ tịch Trung Hoa. Jenkin Leung (2022) đọc ba truyện Sino-Việt qua khung “diện mạo” (façade), chỉ ra thao tác dịch chuyển văn hóa ở tầng nhân vật và bối cảnh.

Điểm chưa ngã ngũ. Câu hỏi phái sinh văn bản đã khép: Việt Tỉnh truyện bắt nguồn từ truyện Thôi Vĩ đời Đường. Câu hỏi còn mở là mức độ và ý đồ của việc cải biên: người soạn Việt cải biên cốt truyện để làm gì, và có hay không một lớp truyền thuyết địa phương về Trâu Sơn, Ân Vương đã tồn tại trước khi cốt truyện Hoa được ghép vào. Chưa có chứng cứ văn bản nào sớm hơn LNCQ được đưa ra cho lớp địa phương ấy, và các bên chưa khép được tranh luận này.

Lưu ý khi sử dụng

Tính lịch sử. Truyện không phải sử liệu. Cần phân biệt rõ ba tầng thời gian: (i) thời điểm biên soạn văn bản (Thái Bình Quảng Ký 978; LNCQ thế kỷ XV); (ii) bối cảnh mà truyện tự nhận (đời Đường Trinh Nguyên với bản Hoa, đời Hùng Vương với bản Việt), không được đọc như sự thật lịch sử; (iii) hiện thực lịch sử và khảo cổ (Nam Việt, Triệu Đà thế kỷ III-II trước Công nguyên; mộ Triệu Muội khai quật năm 1983). Giá trị của truyện nằm ở thao tác bản địa hóa và ở chức năng lý giải địa danh, không ở tính chính xác sự kiện.

Chi tiết bản Việt cần đối chiếu. Tên viên bảo châu, tên vị tiên nữ đón đi, và thứ tự truyện trong quyển 2 hiện chỉ tra được trên các trang phổ biến, chưa đạt chuẩn nguồn uy tín. Trước khi trích cố định, cần đối chiếu bản dịch phê bình Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, hoặc bản khảo cứu Nguyễn Thị Oanh (NXB KHXH).

Không lẫn mộ Triệu Muội với “lăng Triệu Đà”. Ngôi mộ vua Nam Việt khai quật năm 1983 tại Quảng Châu là mộ Triệu Muội (cháu Triệu Đà), không phải mộ Triệu Đà; mộ Triệu Đà đến nay chưa tìm thấy.

Tranh luận Triệu Đà chưa khép. Vị thế chính thống của nhà Triệu trong sử Việt là một tranh luận nhiều thế kỷ; entry trình bày cả hai phía và không tự phân xử. Khi trích cần dẫn chính văn (Toàn thư, Tiền biên) hoặc công trình học thuật, không lấy từ trang phổ biến.

Thi viện gán nhầm tác giả. Một số trang mạng (trong đó có Thi viện) gán nhầm Lĩnh Nam Chích Quái cho Nguyễn Dữ. LNCQ do Trần Thế Pháp soạn, Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu chính; Nguyễn Dữ là tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, một tác phẩm khác.

  1. Trần Thế Pháp (soạn TK XIV), Vũ Quỳnh và Kiều Phú (hiệu chính 1492-1493). Lĩnh Nam Chích Quái . Việt Tỉnh truyện (越井傳), quyển 2 . Bản chép tay NLVNPF-0651 (R.1618), 115 trang, số hóa từ sưu tập Thư viện Quốc gia Việt Nam. Bản dịch: Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, NXB Văn Hóa 1960; Lê Hữu Mục, NXB Khai Trí 1960-1961.
  2. Lý Phưởng (李昉) chủ biên. Thái Bình Quảng Ký (太平廣記), quyển 34, truyện Thôi Vĩ (崔煒) . Thần tiên tam thập tứ; cuối truyện chua xuất xứ 出《傳奇》 (từ tập Truyền Kỳ của Bùi Hình 裴鉶) . 978, đời Tống. Văn bản Hán gốc số hóa trên Chinese Text Project.
  3. Nguyễn Thị Oanh. Lĩnh Nam chích quái (Khảo luận, Dịch chú, Nguyên bản chữ Hán) . NXB Khoa học Xã hội (phát triển từ luận án tiến sĩ 2005, ĐH Sư phạm Hà Nội).
  4. Đới Khả Lai (戴可來) và Dương Bảo Quân (楊保筠) hiệu chú. Lĩnh Nam Chích Quái Đẳng Sử Liệu Tam Chủng (嶺南摭怪等史料三種) . NXB Trung Châu Cổ Tịch (中州古籍出版社), 1991. Ghi rõ truyện Việt Tỉnh lấy từ truyện Thôi Vĩ đời Đường.
  5. Jenkin Leung. Beyond the Chinese Façade: A Preliminary Study of Three Sino-Vietnamese Legends from Lĩnh Nam Chích Quái . Honors thesis, UC Berkeley, 2022 .
  6. Sungkyun Journal of East Asian Studies 25/2 (2025). South Korean Studies on Literary Sinitic Sources from Vietnam . Dẫn nghiên cứu so sánh 崔煒 (Thôi Vĩ) với Việt Tỉnh truyện của Ch'oe China (최진아) .
  7. Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition . Journal of Vietnamese Studies 7/2 (2012), tr. 87-130 .
  8. Liam C. Kelley. Bản dịch Lĩnh Nam Chích Quái liệt truyện (Viet Texts) . University of Hawai'i.
  9. Émile Gaspardone. Bibliographie annamite . BEFEO 34 (1934), tr. 1-173, đặc biệt tr. 128-130 (thư mục các bản LNCQ) .
  10. Keith Weller Taylor. The Birth of Vietnam . tr. 23-27 (Nam Việt và Triệu Đà); tr. 354-357 (LNCQ) . University of California Press, 1983.
  11. Ngô Sĩ Liên. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư . Ngoại kỷ, Kỷ nhà Triệu . 1479. Bản dịch: Viện Sử học, NXB KHXH 1993.